• Bá Đả Sơn Quân Hoàn / Kiện Vị Hoàn / Hoàn Giải Phong Độc

Giới thiệu
Cơ sở Sản xuất Thuốc thành phẩm Y Học Cổ Truyền Rạng Đông có truyền thống gần 40 năm chuyên sản xuất thuốc từ dược liệu có nguồn gốc thiên nhiên, đảm bảo duy trì dược tính của dược liệu.
 
Cơ sở Rạng Đông có đội ngũ Lương Dược, Dược sĩ, Thạc Sỹ giàu kinh nghiệm đã sản xuất nhiều sản phẩm có uy tín, chất lượng từ những phương thuốc gia truyền của các Lương y có kinh nghiệm đúc kết từ quá trình điều trị bệnh kết hợp cùng công nghệ sản xuất hiện đại.

Sản phẩm đã được đăng ký tại Bộ Y Tế và được cấp phép lưu hành toàn quốc.
Hỗ trợ trực tuyến

Chat with me

Quảng cáo
 
 
Đương quy trị bệnh về huyết
Đương quy - Vị thuốc chủ yếu trong điều trị phụ khoa và bồi bổ khí huyết.

(SKDS) –  Đương quy [Angelica sinensis (Oliv.) Diels.], họ hoa tán (Apiaceae), là cây thuốc được Đông y sử dụng rất lâu đời, có nguồn gốc từ Tứ Xuyên, Trung Quốc di thực vào nước ta từ thế kỷ trước. Ngoài ra còn có cây đương quy Nhật Bản cùng họ, cũng được di thực vào Việt Nam những năm gần đây. Theo YHCT, đương quy có vị ngọt, cay, hơi đắng, tính ấm, vào 3 kinh tâm, can, tỳ với công năng bổ huyết, bổ ngũ tạng, hoạt huyết, giải uất kết, hoạt tràng thông tiện, giải độc, là một vị thuốc mang tính bổ huyết là chính.

Y học cổ truyền (YHCT) chia bệnh về huyết thành một số thể như huyết hư, huyết trệ, xuất huyết.

Huyết hư: biểu hiện da xanh xao, mắt thâm quầng, nhiều lòng trắng, môi thâm, lưỡi nhợt nhạt, người gầy yếu, kém ăn, mất ngủ, thường xuyên choáng váng, đau đầu, hoa mắt..., thường gặp ở những người mới ốm dậy, người già, phụ nữ sau khi sinh hoặc sau mắc sốt rét, sốt xuất huyết, viêm gan, nhiễm ký sinh trùng (giun móc, giun tóc)... Để điều trị, YHCT thường sử dụng các thuốc bổ huyết như: đương quy, thục địa, bạch thược, long nhãn...

Huyết trệ (hay huyết ứ):cơ thể bị chấn thương tụ máu gây bầm tím, cơ nhục đau đớn, đau dây thần kinh, đau xương, khớp...; hoặc bế kinh, đau bụng kinh; hoặc ứ huyết sau sinh gây đau bụng, hoặc huyết lưu thông kém gây tức ngực, đau sườn, đau đầu, choáng váng... Trường hợp này thường sử dụng các thuốc hoạt huyết, như đan sâm, ích mẫu, kê huyết đằng, tô mộc, nga truật...

 Đương quy là vị thuốc Đông y trị các chứng bệnh về huyết rất hiệu quả.

Xuất huyết:

 

biểu hiện như xuất huyết dưới da, chảy máu cam, chảy máu chân răng, chảy máu đường tiêu hóa (dạ dày, ruột...), trĩ xuất huyết, băng kinh... Thường dùng các thuốc mang tính chỉ huyết như địa du, trắc bách diệp, hà diệp, cỏ nhọ nồi, đại kế, tiểu kế... (sao đen hoặc sao cháy). Trên thực tế lâm sàng, các chứng bệnh thường xuất hiện đan xen các triệu chứng, như vừa bị chứng huyết hư lại kèm chứng ứ huyết, vừa bị thiếu máu lại bị bế kinh, đau bụng... hoặc vừa bị thiếu máu song vẫn bị chảy máu cam, xuất huyết dưới da... Để điều trị các triệu chứng trên, đương quy là vị thuốc phù hợp nhất.

Qua thực tế điều trị người ta thấy phần đầu của đương quy (quy đầu) vừa có tác dụng bổ huyết song lại thiên về tác dụng chỉ huyết; còn phần các đuôi rễ (quy vĩ), ngoài tác dụng bổ huyết, lại thiên về tác dụng hoạt  huyết. Do đó đương quy được dùng trị các chứng bệnh sau:

Thiếu máu dẫn đến hoa mắt, chóng mặt, da dẻ xanh xao, người gầy yếu: đương quy, xuyên khung, bạch thược, thục địa mỗi vị 12g. Sắc uống ngày 1thang, uống liền 3 - 4 tuần lễ đến khi các triệu chứng thuyên giảm.

Trường hợp khí và huyết đều kém, người mệt mỏi, vô lực, da xanh xao, gầy còm: đương quy 12g, hoàng kỳ 40g. Sắc uống ngày 1 thang, uống liền 3 - 4 tuần lễ. Hoặc đương quy, nhân sâm (đảng sâm), bạch linh, bạch truật, bạch thược, thục địa mỗi vị 12g; xuyên khung 8g, cam thảo 6g. Sắc uống ngày 1 thang, uống liền  3 - 4 tuần lễ; hoặc dùng dưới dạng viên hoàn, uống dài ngày.

Trị chứng bế kinh, đau bụng kinh: đương quy, sinh địa, ngưu tất, hồng hoa, xuyên khung mỗi vị 6g; chỉ xác 8g; sài hồ, cam thảo mỗi vị 4g. Sắc uống ngày 1 thang.

Trị các chứng xuất huyết: đương quy, bồ hoàng, đại hoàng, hòe hoa, a giao mỗi vị 30g. Tất cả các vị thuốc đều tán sao, thêm mật ong làm hoàn, ngày 2 lần, mỗi lần 10g.

Trị tiêu hóa kém do tỳ hư dẫn đến khí huyết đều kém, cơ thể gầy yếu, kém ăn, kém ngủ:  đương quy, viễn chí, cam thảo mỗi vị 4g; bạch truật, hoàng kỳ, bạch linh, hắc táo nhân mỗi vị 12g; đảng sâm, mộc hương mỗi vị 6g. Sắc uống ngày 1 thang.

Do trong thành phần có chứa tinh dầu, mùi vị rất thơm ngon, đương quy còn được sử dụng trong chế biến các món ăn hằng ngày, vừa có giá trị dinh dưỡng cao, vừa có tác dụng chữa bệnh như dùng đương quy thái mỏng nấu với thịt gà, ăn tuần 2 lần giúp kích thích tiêu hóa, giúp ăn ngon lại bổ máu. Hoặc dùng đương quy, thục địa, kỷ tử, ý dĩ ninh với móng giò lợn, tuần ăn 2 - 3 lần để bổ máu và hoạt huyết, giúp phụ nữ sau đẻ chóng hồi phục sức khỏe, có nhiều sữa.

Lưu ý:Do đương quy có tính nhuận hoạt tràng nên những người bị viêm đại tràng thể hàn, phân thường xuyên nát, lỏng không nên dùng. 

GS. TS. Phạm Xuân Sinh
Sức khỏe và Đời sống
6/10/2013
  
 
Các tin khác
 
  
Quảng cáo